Thông tin cần biết

Ban vì sự tiến bộ PN  »  Thông tin cần biết

Nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy – “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”

 

Ở Việt Nam chúng ta đã có khẩu hiệu: "Sống, làm việc theo Hiếp pháp và pháp luật” ra đời từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều thể chế đã được ban hành, nhiều giải pháp về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được triển khai thực hiện, nhưng kết quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức và người dân trong xã hội chưa cao, làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật, ảnh hưởng đến nền pháp chế Xã hội chủ nghĩa.

Trong những năm gần đây, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, coi là nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, nhiều mô hình, cách làm hay đã được nhân rộng. Trong đó có mô hình Ngày pháp luật là một cách làm mới, tích cực, góp phần đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiện có. Từ sáng kiến trước đây của một số tỉnh, trong năm 2010, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ đã hướng dẫn việc nhân rộng Ngày Pháp luật trên phạm vi toàn quốc. Đến nay, hầu hết các Bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai thực hiện mô hình này và đã đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần bảo đảm sự công khai, minh bạch của các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Luật phổ biến, giáo dục pháp luật được ban hành, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2013,  nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, tạo chuyển biến căn bản, bền vững về hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, với việc huy động toàn bộ hệ thống chính trị tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt; xác lập trách nhiệm và cơ chế phối hợp, huy động các nguồn lực của các cơ quan, tổ chức và xã hội cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Thông qua hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp đều có quyền và được tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận thông tin về pháp luật, qua đó nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật. Điều đặc biệt, trong Luật phổ biến, giáo dục pháp luật đã dành trọn 01 điều để quy định về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (gọi tắt là Ngày Pháp luật Việt Nam). Theo đó, “Ngày 09 tháng 11 hàng năm là Ngày Pháp luật Việt Nam”

Năm nay, năm 2014 là năm thứ hai Luật phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu lực thi hành và cũng là năm thứ hai Ngày Pháp luật Việt Nam được tổ chức trên phạm vi toàn quốc và cũng là năm ghi nhận một sự kiện rất quan trọng trong đời sống chính trị - pháp lý của đất nước, đó là Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2013 chính thức có hiệu lực và từng bước đi vào cuộc sống. Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, một trong những nội dung được triển khai năm 2014, nhân ngày Pháp luật Việt Nam là: “…Tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; …”

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã định hướng: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Đổi mới căn bản nền giáo dục trước hết phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học, xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệm, dạy tốt, học tốt, khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo của học sinh, tránh chạy theo bệnh thành tích”… Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu. Hiện nay, không chỉ Việt Nam, mà các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp Giáo dục - đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

Đổi mới phương pháp dạy học, đó chính là tổ chức dạy học theo lối đổi mới, là tạo lập cho quá trình dạy học những điều kiện, những giá trị mới. Đó là:

*  Tạo cho học sinh một vị thế mới và những tiền đề, những điều kiện thuận lợi để hoạt động. Cụ thể là:

- Người học phải trở thành chủ động, tích cực, tự giác, chủng động và sáng tạo trong hoạt động để kiến tạo kiến thức. Người học cần phải thực sự hoạt động để kiến tạo kiến thức. Người học phải thực sự đạt được không chỉ những tri thức và kĩ năng của bộ môn mà quan trọng hơn thế là tiếp thu được cách học, cách tự học.

- Tạo ra và duy trì ở học sinh những động lực học tập mạnh mẽ. Đó chính là động cơ, hứng thú, niềm lạc quan của học sinh trong quá trình học tập. Những nhân tố này chính là những động cơ thúc đẩy mạnh mẽ học sinh học tập tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo trong hoạt động động lập hoặc hợp tác.

- Phát triển ở học sinh khả năng tự đánh giá kết quả học tập của mình để trên cơ sở đó bản thân học sinh có thể điều chỉnh các hoạt động của mình theo mục tiêu đã định.

* Xác lập, khẳng định vai trò, chức năng mới của người thầy trong quá trình dạy học. Cụ thể là:

- Người thầy phải là người tổ chức, chỉ đạo, diều khiển các hoạt động học tập tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh. Người thầy sẽ không còn là nguồn phát thông tin duy nhất, không phải là người hoạt động chủ yếu ở trên lớp như trước đây mà sẽ là người tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh.

- Với tư cách là người tổ chức, chỉ đạo điều khiển qua trình học tập của học sinh, người thầy cần phải đảm nhiệm và thực hiện tôt các chức năng sau:

Thiết kế tức là lập cho quá trình dạy học về cả mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học, Người giáo viên cần xuất phát từ mục đích và nội dung của bài học mà thiết kế ra những tình huống thích hợp để học sinh chiếm lĩnh nó qua hoạt động học tập tich cực, tự giác, sáng tạo theo hướng độc lập hoặc hợp tác, giao lưu.

Ủy thác tức là thông qua đặt vấn đề nhận thức, tạo động cơ hứng thú, người thầy biến ý đồ dạy của mình thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò và chuyển giao cho trò những tình huống để trò hoạt động và thích nghi.

Điều khiển: qua trình học tập của học sinh dựa trên cơ sở thực hiện một hệ thống mệnh lệnh, chỉ dẫn, trợ giúp, đánh giá (bao gồm cả sự động viên).

Thể chế hóa : là xác nhận định vị kiến thức mới trong hệ thống tri thức đã có, đồng thời nhất hóa kiến thức riêng lẻ của học sinh thành tri thức khoa học xã hội, hướng dẫn vận dụng và nghi nhớ.

Những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, là sự kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy học phù hợp với nội dung, trình độ nhận thức của học sinh và điều kiện thực tế để đạt được mục tiêu bài học. Ước tính có tới hàng trăm phương pháp dạy học cụ thể, bao gồm những phương pháp chung cho nhiều môn và các phương pháp đặc thù bộ môn. Bên cạnh các phương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, biểu diễn trực quan, làm mẫu có thể kể ra một số phương pháp khác như:

Thuyết trình

Mô phỏng

Đàm thoại

Thảo luận về tương lai

Trình diễn

Phương pháp điều phối

Làm mẫu

Nhiệm vụ thiết kế

Luyện tập

Nhiệm vụ phân tích

Thực nghiệm

Phương pháp văn bản hướng dẫn

Thảo luận

Học theo chặng

Nghiên cứu trường hợp

Khám phá trên mạng (WebQuest)

Trò chơi

Học thông qua dạy

Đóng vai

Dạy học vi mô

…………….

…………………………….

       

 Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế của nó, không có phương pháp dạy học nào là tối ưu cả. Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đòi hỏi cần có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành và tăng cường liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên, việc vận dụng các phương pháp dạy học đạt hiệu quả cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào tài năng sư phạm và khả năng sáng tạo của giáo viên trong việc lên lớp và trong việc khai thác các phương tiện dạy học.

 Mặt khác, chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng: cách mạng khoa học – kỹ thuật  và cách mạng xã hội. Những cuộc cách mạng này đang phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnh vực, có những bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra nhiều triển vọng lớn lao. Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật. Công nghệ thông tin và truyền thông, thường được gọi tắt là ICT (ICT là một sự kết hợp của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông). Việc đưa những thành tựu khoa học và công nghệ này vào trong giáo dục đã tạo nên chuyển biến tích cực trong đổi mới nội dung và phương pháp dạy học nói chung. Tại nhiều trường, nhiều địa phương, ICT đã được ứng dụng linh hoạt trong khá nhiều lĩnh vực như:

- Ứng dụng trong nghiên cứu: Phát triển nguồn tư liệu điện tử hỗ nghiên cứu: cung cấp các tư liệu điện tử địa lý : hệ thống bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, video, số liệu, câu hỏi trắc nghiệm...; Các bài giảng điện tử; Các website dạy học, blog... ICT hỗ trợ trong việc xây dựng tài nguyên, học liệu; hỗ trợ trình bày nội dung; Hỗ trợ tương tác và chia sẻ tài nguyên...

- Ứng dụng trong dạy học theo hướng tích cực, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả: Sử dụng ICT trong thiết kế bài giảng; thu thập tư liệu, trong dạy học trên lớp; trong tự học; để hoàn thành các bài tập nhận thức; hỗ trợ phát triển kỹ năng ứng dụng ICT cho người học...

Ví dụ như bộ môn Địa lí: Nếu trước đây, những bài giảng Địa lý thường chỉ dừng lại ở kiểu truyền đạt kiến thức có sẵn, học sinh nghe, ghi chép lại nội dung trên bảng và những lời thầy đọc chậm thì ngày nay hình ảnh đó cần thay bằng hình ảnh các thầy cô giáo click chuột trong lớp, giáo viên cần từng bước thay đổi thói quen lên bục giảng chỉ với phấn trắng, bảng đen. Một tiết dạy địa lí về các hành tinh, vũ trụ…học sinh được xem hình ảnh sự chuyển động của các hành tinh thật sự, quỹ đạo chuyển động trong thực tế của nó. Một tiết dạy về ngành công nghiệp, học sinh được xem hình ảnh sản xuất với những âm thanh rộn ràng, tất bật ở nhà máy, xí nghiệp. Một giờ dạy về du lịch Việt Nam, học sinh được xem vẻ đẹp cuốn hút của các di sản thiên nhiên thế giới như Vịnh Hạ Long, Động Phong Nha…, nghe được những âm thanh đến mê hoặc lòng người như tiếng Cồng chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc Cung đình Huế... đã trở thành di sản văn hoá phi vật thể thế giới. Với những hình ảnh, âm thanh sống động như thế, khỏi phải nói là các em hứng thú như thế nào. Hầu như tất cả các giờ học có sử dụng giáo án điện tử không có một học sinh nào tỏ ra chán nản, lười biếng trong học tập hoặc học với tâm trạng đối phó, thụ động mà ngựơc lại. Các em nghiêm túc hơn, hứng thú hơn, say mê tìm tòi, không ỷ lại giáo viên như trước đây. Học sinh có ý thức về nhà chuẩn bị bài trước khi đến lớp nhằm giải thích và minh họa những tranh ảnh, bản đồ và cả những đoạn phim về bài học đó. Mỗi bài học như một “ cuốn phim”, còn các em học sinh là những khán giả. Điều này sẽ gây hứng thú cho các em và sự chờ đợi giờ học tiếp theo, học tập sẽ trở thành một niềm vui đối với các em học sinh. Và điều đó cũng có tác động tích cực trở lại đối với giáo viên, giáo viên yêu nghề, hứng thú với nghề hơn… Tất cả những điều này sẽ góp phần giúp thu được kết quả tốt hơn cho giáo dục.

Điều 28 của Luật giáo dục năm 2005 đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông, phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Trong quá trình dạy học, người giáo viên để có thể đáp ứng Điều 28 ở trên và góp phần vào việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29 NQ/TW, Về đổi mới căn bản toàn diên giáo dục và đào tạo, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, ngày 4/11/2013, cần đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh...góp phần thu lại kết quả cao trong học tập.

Hiện nay, Giáo dục – Đào tạo nước ta đang có những bước chuyển mình rõ rệt, việc đổi mới phương pháp dạy học đã đạt được một phần mục tiêu của mình là nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần hình thành và phát triển toàn diện về: đức, trí, văn, thể, mỹ cho học sinh. Chúng ta đang cố gắng để xây dựng cho môi trường sư phạm thật trong lành, thân thiện và mỗi nhà giáo của chúng ta cũng đang phấn đấu để trở thành tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo thực hiện đúng khẩu hiệu hưởng ứng Ngày Pháp Luật năm 2014: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”; “Cán bộ, nhà giáo và người lao động ngành Giáo dục tích cực hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “Tuân theo Hiến pháp và pháp luật là góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; “Nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật là nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức”; “Tôn trọng, bảo vệ và chấp hành Hiến pháp, pháp luật là nét đẹp văn hóa của mỗi người dân”;

Trên con đường phát triển của đất nước, sự đổi mới của nền Giáo dục – Đào tạo để đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa chắc chắn không thể  thiếu sự đổi mới và sáng tạo các phương pháp và phương tiện trong quá trình dạy học của mỗi thầy, cô giáo chúng ta. Vì đó chính là trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, là sự thể hiện mỗi giáo viên luôn “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”. Đổi mới phương pháp dạy học là một hoạt động mang tính liên tục và sẽ không bao giờ có điểm cuối.

 

Th.S Nguyễn Thị Luyến, Trung tâm  NC GD Đại học  và Nghề nghiệp

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam